Bệnh Parkinson- Triệu chứng, nguyên nhân và điều trị

Bệnh Parkinson được coi như là bệnh của người cao tuổi. Những thống kê dịch tễ cho thấy tỷ lệ mắc bệnh cao rõ rệt ở những người trên 65 tuổi. Cả nam và nữ đều có thể mắc bệnh Parkinson, tuy nhiên các tác giả đều cho rằng tỷ lệ mắc bệnh ở nam cao hơn nữ. Ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ mắc bệnh giữa nam/nữ khoảng 1,7.

Bài liên quan bệnh Parkinson

Bệnh Parkinson là một rối loạn tiến triển của hệ thần kinh có ảnh hưởng đến chuyển động của bạn. Bệnh phát triển dần dần, đôi khi bắt đầu với một cơn chấn động hầu như không đáng chú ý chỉ trong một tay. Nhưng trong khi run có thể là dấu hiệu nổi tiếng nhất của bệnh Parkinson, thì rối loạn cũng thường gây ra cứng cơ hay vận động chậm.

Trong giai đoạn đầu của bệnh Parkinson, khuôn mặt của bạn có thể ít hiển thị hoặc không có biểu hiện, hoặc cánh tay của bạn có thể không vung vẩy nhịp nhàng khi bạn đi bộ. Giọng nói của bạn có thể trở nên yếu hoặc líu lưỡi. Triệu chứng bệnh Parkinson tồi tệ hơn theo thời gian.

Mặc dù bệnh Parkinson không thể chữa khỏi, thuốc có thể cải thiện đáng kể các triệu chứng của bạn. Trong trường hợp nặng hơn, bác sĩ có thể đề nghị phẫu thuật để điều chỉnh một số vùng của não và cải thiện các triệu chứng của bạn.

Triệu chứng bệnh Parkinson

Triệu chứng bệnh và dấu hiệu Parkinson có thể thay đổi từ người này sang người khác. Dấu hiệu ban đầu có thể nhẹ và không được chú ý. Các triệu chứng thường bắt đầu ở một bên của cơ thể của bạn và thường trở nên tồi tệ hơn bên đó, ngay cả sau khi các triệu chứng bắt đầu ảnh hưởng đến cả hai bên. Các dấu hiệu và triệu chứng Parkinson có thể bao gồm:

•        Run. Thường bắt đầu bằng run, hoặc lắc ở ngón tay của bạn, sau đó lan ra cả cánh tay. Đôi khi run bàn tay khiến ngón cái cọ vào ngón trỏ như là vê viên bi. Một đặc điểm của bệnh Parkinson là run tay ngay cả khi nó ở tư thế thoải mái (khi nghỉ ngơi).

•        Chuyển động chậm (chậm vận động). Theo thời gian, bệnh Parkinson có thể làm giảm khả năng di chuyển và cử động của bạn chậm chạm. Điều này có thể làm cho việc thực hiện các công việc đơn giản trở nên khó khăn và tốn thời gian. Các bước của bạn có thể trở nên ngắn hơn khi đi bộ, hoặc bạn có thể cảm thấy khó khăn khi rời khỏi ghế. Ngoài ra, bàn chân của bạn có thể như dính vào sàn  khi bạn cố gắng đi bộ, làm cho nó di chuyển khó khăn.

Bệnh Parkinson, Parkinson, triệu chứng, dopamine

Triệu chứng bệnh Parkinson

•        Cơ bắp cứng. Cơ bắp cứng có thể xảy ra trong bất kỳ bộ phận nào của cơ thể. Các cơ bắp cứng có thể giới hạn phạm vi chuyển động của bạn và làm bạn đau đớn.

•        Dáng điệu suy yếu và mất cân bằng. Dáng của bạn có thể bị khom xuống, hoặc bạn có thể có vấn đề cân bằng là kết quả của bệnh Parkinson.

•        Mất các cử động tự động. Khi bị bệnh Parkinson, bạn có thể giảm khả năng thực hiện động tác vô thức, bao gồm chớp mắt, mỉm cười hoặc đung đưa cánh tay của bạn khi bạn đi bộ. Bạn có thể không còn điệu bộ cử chỉ khi nói chuyện.

•        Giảm khả năng nói.  Khi bị bệnh Parkinson, bạn thường có thể có vấn đề khi nói. Bạn có thể nói chuyện nhẹ nhàng, nhanh chóng, nói líu nhíu hay ngập ngừng trước khi nói chuyện. Giọng nói của bạn có thể đều đều hơn, chứ không phải có các ngữ điệu thông thường.

•        Chữ viết thay đổi. Chữ viết có thể xuất hiện nhỏ và trở nên khó đọc.

Thuốc thường làm giảm rõ rệt nhiều triệu chứng bệnh Parkinson. Các loại thuốc này làm tăng hoặc thay thế cho hóa chất dẫn truyền tín hiệu giúp cơ cử động uyển chuyển nhịp nhàng và có kiểm soát trong não của bạn: dopamine. Những người bị bệnh Parkinson có nồng độ dopamin não thấp.

Nguyên nhân và nguy cơ bệnh Parkinson

Trong quá trình lão hóa bình thường, ai cũng bị mất một số nơron sản sinh dopamin. Nhưng người bệnh Parkinson bị mất ít nhất là 60% các nơron ở vân xám. Nguyên nhân gây ra hiện tượng này vẫn đang được các nhà khoa học tích cực nghiên cứu. Hiện nay, các nhà khoa học cho rằng bệnh Parkinson có thể là hậu quả của sự phối hợp các yếu tố di truyền và môi trường. Một số thuốc, bệnh và độc tố cũng có thể gây các triệu chứng tương tự triệu chứng của bệnh Parkinson.

Yếu tố di truyền

Cho đến gần đây, các nhà khoa học vẫn tin rằng gen đóng vai trò chủ yếu trong một thể bệnh Parkinson xảy ra ở người trẻ. Nhưng nghiên cứu mới đây cho thấy một thành tố di truyền mạnh mẽ cũng xuất hiện ở người già. Trên thực tế, những người có người thân trực hệ bị bệnh Parkinson, như cha mẹ, anh chị em ruột hoặc con, có nguy cơ bị bệnh cao hơn gấp ba lần, bất kể độ tuổi. Và một nghiên cứu thấy rằng có hai người thân trực hệ bị bệnh Parkinson thì nguy cơ có thể tăng gấp 10 lần.

Yếu tố môi trường

Những người tiếp xúc với thuốc trừ sâu diệt cỏ dễ bị bệnh Parkinson gấp ba lần so với người không tiếp xúc. Đáng tiếc là các nhà khoa học vẫn chưa thể xác định mối liên quan giữa một loại thuốc trừ sâu diệt cỏ cụ thể với bệnh Parkinson. Bệnh cũng hay gặp hơn ở những người làm nông nghiệp, sống ở vùng nông thôn hoặc uống nước giếng. Có khả năng tiếp xúc với thuốc trừ sâu diệt cỏ cũng đóng vai trò quan trọng trong các trường hợp này.

Thuốc

Một số thuốc dùng kéo dài hoặc với liều cao có thể gây các triệu chứng bệnh Parkinson. Các thuốc này gồm haloperidol (Haldol, Halperon) và chlorpromazin (Thorazine, Sonazine), thường được kê đơn điều trị một số rối loạn tâm thần, cũng như những thuốc dùng điều trị buồn nôn, như metoclopramid (Reglan) và prochlorperazin (Compazine, Compro). Thuốc động kinh valproat (Depacon) cũng có thể gây một số đặc điểm của bệnh Parkinson, đặc biệt là run nhiều.

Hóa chất độc

Tiếp xúc với hóa chất độc như bụi mangan hoặc hoá chất MPTP, một sản phẩm phụ của quá trình sản xuất heroin, có thể gây Parkinson. Các nhà khoa học lần đầu tiên biết về bệnh Parkinson do MPTP là vào những năm 1980 khi nhiều người nghiện heroin sử dụng loại ma túy lẫn MPTP này bị tất cả các triệu chứng của Parkinson. Tuy nhiên những trường hợp này rất hiếm gặp.

Tuổi

Tuổi là một trong những yếu tố nguy cơ chính đối với bệnh Parkinson. Mặc dù bệnh có thể xảy ra ở người lớn trong độ tuổi 20, song nó chủ yếu bắt đầu ở tuổi trung niên hoặc muộn hơn. Nguy cơ tiếp tục tăng theo tuổi. Một số nhà nghiên cứu giả thiết rằng người bệnh Parkinson có thể có tổn thương thần kinh do các yếu tố di truyền hoặc môi trường trở nên nặng hơn theo thời gian.

– Giảm nồng độ estrogen: Giảm nồng độ estrogen làm tăng nguy cơ bệnh Parkinson. Điều này có nghĩa là phụ nữ mãn kinh ít hoặc không dùng liệu pháp thay thế hormon (HRT) và những người cắt tử cung toàn bộ có nguy cơ cao hơn. Phụ nữ mãn kinh dùng HRT có vẻ giảm nguy cơ. Nhưng không phải tất cả các tác dụng của HRT đều là tích cực. Dùng HRT ở dạng liệu pháp phối hợp – estrogen + progestin – có thể gây những tác dụng phụ nghiêm trọng và nguy cơ đối với sức khoẻ. Hãy cùng bác sĩ đánh giá các lựa chọn và quyết định lựa chọn nào là tốt nhất cho bạn.

– Giảm nồng độ folate: Kết quả nghiên cứu công bố tháng 1/2002 trên tạp chí Journal of Neurochemistry cho thấy nồng độ thấp của vitamin B folat (dạng tổng hợp được gọi là acid folic) có thể tăng sự mẫn cảm với bệnh Parkinson.

Khi nào cần đi khám

Cần đi khám bác sĩ nếu bạn có bất kỳ triệu chứng nào liên quan với bệnh Parkinson – không chỉ để chẩn đoán bệnh mà còn để loại trừ các nguyên nhân khác gây ra triệu chứng. Thí dụ, run thường là dấu hiệu sớm của bệnh Parkinson song dạng run phổ biến nhất, gọi là run vô căn, không phải do bệnh Parkinson gây ra.

Mặc dù bệnh Parkinson đôi khi có thể khó phát hiện, song việc có được chẩn đoán chính xác là chìa khoá để bắt đầu điều trị thích hợp giúp trì hoãn hoặc kiềm chế các triệu chứng trong nhiều năm.

Sàng lọc và chẩn đoán

Vì hiện chưa có xét nghiệm xác định bệnh Parkinson, bệnh có thể khó chẩn đoán, đặc biệt là ở giai đoạn sớm. Hơn nữa, các triệu chứng của bệnh, gồm đi loạng choạng, run, nói hoặc viết khó – có thể bị hiểu sai là ảnh hưởng của tuổi tác, nhất là ở người già bị bệnh. Đồng thời, đôi khi bác sĩ bỏ qua bệnh Parkinson ở người trẻ vì họ cho rằng bệnh chủ yếu xảy ra ở người già.

Chẩn đoán bệnh Parkinson thường dựa vào bệnh sử, quan sát các triệu chứng và khám thần kinh. Trong tiền sử bệnh, bác sĩ sẽ muốn biết về những thuốc mà bạn đang uống và liệu bạn có tiền sử gia đình bị bệnh Parkinson hay không. Khám thần kinh gồm đánh giá việc đi lại, phối hợp động tác và một số công việc khéo léo đơn giản. Khi hỏi bệnh sử, bác sĩ có thể nhận xét những dấu hiệu tinh tế của bệnh Parkinson – như giảm biểu hiện nét mặt, thiếu điệu bộ cử chỉ hoặc run nhẹ.

Biến chứng

Khoảng 40% người Parkinson bị trầm cảm. Ở khoảng 1/4 những người này, các triệu chứng trầm cảm xuất hiện nhiều tháng, thậm chí nhiều năm trước khi bệnh được chẩn đoán. Mặc dù những hạn chế thể lực do Parkinson có thể gây chán nản và căng thẳng, song trầm cảm ở một số người bệnh Parkinson thường không phải là phản ứng với sự tàn phế thể chất mà nhiều khả năng nảy sinh từ những thay đổi của não liên quan với bệnh.

Ngoài ra, khoảng 1/3 số người bị bệnh Parkinson cuối cùng sẽ bị sa sút trí tuệ, một tình trạng gồm mất trí nhớ, giảm sức phán đoán và thay đổi tính cách.

Các thuốc điều trị bệnh Parkinson cũng có thể gây một số biến chứng, gồm những cử động máy giật không tự chủ của tay và chân (loạn vận động), ảo giác, buồn ngủ, và tụt huyết áp khi đứng.

Các biến chứng khác của bệnh Parkinson gồm:

Khó nhai và nuốt: Ở giai đoạn muộn của bệnh, các cơ dùng để nuốt có thể bị ảnh hưởng, khiến ăn uống khó khăn.

Các vấn đề về tiết niệu: Bệnh Parkinson có thể gây tiểu không tự chủ hoặc bí đái. Một số thuốc điều trị bệnh, nhất là những thuốc chống tiết cholin, có thể gây tiểu tiện khó.

Táo bón: Nhiều người bệnh Parkinson bị táo bón vì đường tiêu hóa hoạt động chậm hơn. Táo bón cũng là một tác dụng phụ của thuốc dùng điều trị bệnh.

Các vấn đề về giấc ngủ: Người bệnh Parkinson thường khó ngủ và hay thức giấc vào ban đêm. Họ ngủ không ngon giấc và thường cử động trong khi mơ (rối loạn hành vi giấc ngủ chuyển động mắt nhanh). Một số vấn đề về giấc ngủ có liên quan với trầm cảm.

Rối loạn chức năng tình dục: Một số người bị bệnh Parkinson có thể giảm ham muốn tình dục. Điều này bắt nguồn từ sự kết hợp nhiều yếu tố tâm lý và thể chất, hoặc có thể là hậu quả của các yếu tố thể chất đơn thuần.

Điều trị bệnh Parkinson

Nguyên tắc điều trị bệnh Parkinson

•        Bệnh Parkinson là bệnh tiến triển mạn tính nên phải điều trị lâu dài.

•        Ở bệnh nhân mới mắc nên sử dụng nhóm kháng cholin, amantadin, selegilin, thuốc đồng vận với dopamine. Trì hoãn dùng L – dopa càng dài càng tốt.

•        Dùng đơn trị liệu, liều thấp tăng dần, duy trì ở liều tác dụng.

•        Ưu tiên hàng đầu là điều trị nội khoa.

•        Phẫu thuật chỉ nên sử dụng khi bệnh nhân không đáp ứng với các thuốc hoặc để làm nhóm đối chứng trong nghiên cứu.

Các nhóm thuốc điều trị bệnh Parkinson

•        Nhóm Alcaloide.

•        Các thuốc kháng histamin tổng hợp.

•        Nhóm thuốc kháng cholin tổng hợp.

Cơ chế tác động là ức chế hoạt động của hệ cholin ở hệ thần kinh trung ương. Các chất này qua được hàng rào máu não nên có tác dụng tốt trong điều trị và hạn chế được các tác dụng ngoại vi.

* Nhóm thuốc có tác dụng đồng vận với dopamine (dopamine agonist).

Các chất đồng vận dopamine tác động theo cơ chế kích thích trực tiếp các thụ thể dopamine ở màng sau khớp thần kinh (xinap). Tác dụng phụ của nhóm đồng vận dopamine thấy trên tim mạch và tiêu hoá: hạ huyết áp, đau bụng, buồn nôn…

* Các thuốc thay thế dopamine (levo dopa = L – dopa): ưu điểm của L-dopa là bổ sung dopamine kịp thời và đúng cơ chế bệnh sinh. Để khắc phục tác dụng phụ, hiện nay người ta dùng L – dopa dưới dạng kết hợp với chất ức chế men khử carbon là madopar và sinemet. Tuy nhiên, việc cho chỉ định dùng L – dopa để điều trị cần phải cân nhắc kỹ (tuỳ theo lứa tuổi, tuỳ theo giai đoạn của bệnh….) và trì hoãn càng lâu càng tốt vì hiện tượng loạn động do dopamine và những khó khăn trong việc điều trị bệnh.

* Các thuốc ức chế quá trình dị hoá dopamine: thuốc ức chế men oxy hoá amin đơn (selegilin) và các thuốc ức chế men COM (đại diện là tolcapon).

Các phương pháp điều trị khác

* Các phương pháp điều trị phẫu thuật: làm tổn thương, phá huỷ cấu trúc vùng đích dẫn đến thay đổi chức năng.

Phòng chống

Bởi nguyên nhân của Parkinson là không rõ, cách dứt khoát để ngăn chặn căn bệnh này cũng vẫn là một bí ẩn. Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng caffeine – được tìm thấy trong cà phê, trà và nước giải khát – có thể làm giảm nguy cơ phát triển bệnh Parkinson. Trà xanh cũng có thể làm giảm nguy cơ phát triển bệnh Parkinson.

Các nhà khoa học khuyên bổ sung đủ folat hoặc acid folic có thể giúp bảo vệ người cao tuổi trước bệnh Parkinson cũng như một số bệnh thần kinh thoái hóa khác.

DS. Phúc Chính

Viết bình luận

Bệnh Parkinson- Triệu chứng, nguyên nhân và điều trị Bệnh Parkinson, Parkinson, triệu chứng, dopamine

Bệnh Parkinson được coi như là bệnh của người cao tuổi. Những thống kê dịch tễ cho thấy tỷ lệ mắc bệnh cao 

Yêu thích: 1872 / Xu hướng: 1987 / Tổng: 3859