Loãng xương – cách phòng ngừa và thuốc điều trị loang xuong

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), loãng xương là một bệnh nội tiết của toàn bộ hệ thống khung xương với đặc điểm là giảm mật độ xương và sự hư hỏng của cấu trúc vi thể của mô xương dẫn đến xương dễ bị gãy hơn và hậu quả là tăng nguy cơ gãy xương. Các xương quan trọng thường bị gãy là xương cột sống, xương đùi và cổ xương đùi, xương tay. Ngoài ra ở bệnh nhân lớn tuổi còn có thể gãy khung xương chậu và xương sườn.

Bài liên quan loãng xương:

 Nguyên nhân gây loãng xương:

Loãng xương được xếp thành 2 loại: Loãng xương tiên phát và loãng xương thứ phát.

Các loại loãng xương:

Loãng xương tiên phát:

Là mức độ nặng của tình trạng thiểu sản xương sinh lý, do quá trình hoá già của các tế bào sinh xương (tạo cốt bào) và tăng hoạt động của các tế bào hủy xương (hủy cốt bào), cho đến khi trọng lượng xương (trong một đơn vị thể tích) giảm trên 30% thì có dấu hiệu lâm sàng.

Sở dĩ có hiện tượng loãng xương là do sự mất cân bằng giữa hormon sinh dục do giảm theo tuổi và hormon thượng thận (không đổi) dẫn đến giảm hấp thu canxi ở ruột, thận dẫn đến giảm canxi trong máu. Khi canxi máu giảm sẽ kích thích tiết hormon tuyến cận giáp, từ đó kích thích các hủy cốt bào và làm thoái hóa tế bào tạo xương. Do vậy, loãng xương nguyên phát thường gặp ở phụ nữ trên 50 tuổi. Tuổi càng cao thì tình trạng loãng xương càng tăng. khi trọng lượng xương (trong một đơn vị thể tích) giảm trên 30% thì xuất hiện dấu hiệu trên lâm sàng.

Loãng xương, loang xuong, mật độ xương, Thuốc, thuoc, thuoc dieu tri, canxi

Các giai đoạn của bệnh loãng xương

Loãng xương  thứ phát:

  • Có thể vì bất động quá lâu do bệnh tật, hoặc do nghề nghiệp (ví dụ: Du hành vũ trụ).
  • Do các bệnh nội tiết: Cường vỏ thượng thận, suy tuyến sinh dục, cường giáp trạng, to đầu chi.
  • Do các bệnh thận: Thải nhiều canxi, chạy thận nhân tạo.
  • Lạm dụng thuốc: Một trong số thuốc gây loãng xương nguy hiểm nhất là corticoid.

Dấu hiệu loãng xương:

Các giai đoạn của bệnh loãng xương:

 Bệnh loãng xương thường tiến triển qua 3 giai đoạn.

Giai đoạn 1: Mật độ xương không đủ.

Giai đoạn 2: Mật độ xương thấp, nhưng chưa có gãy xương.

Giai đoạn 3: Loãng xương nặng, gây ra một hoặc nhiều vụ gãy xương.

Loãng xương thường không có dấu hiệu lâm sàng nào hoặc có dấu hiệu đau xương sống lưng hoặc các đầu xương dài.

Nhưng thông thường các triệu chứng đầu tiên cũng có thể là biểu hiện biến chứng của loãng xương như xẹp đốt sống hoặc gẫy xương.

Xẹp đốt sống có thể gây đau hoặc không đau. Đau xuất hiện tự nhiên hoặc liên quan tới gắng sức/ chấn thương nhỏ. Thường cấp tính, khởi phát đột ngột, không lan, không có triệu chứng chèn ép thần kinh kèm theo. Đau giảm rõ khi nằm và giảm dần rồi biến mất trong vài tuần.

Rối loạn tư thế cột sống do xẹp nhiều đốt sống, cột sống thường gù cong đoạn cột sống lưng- thắt lưng, giảm chiều cao. Do gù, các xương sườn 10-12 cọ sát vào cánh chậu gây đau.

Gẫy xương thường ở đầu trên xương đùi, xương cánh tay, đầu dưới xương cẳng tay, xương sườn, xương chậu và xương cùng.

Đề phòng loãng xương:

– Bạn nên định kỳ kiểm tra sức khỏe, phát hiện sớm loãng xương để có biện pháp điều trị thích hợp. Có 2 phương pháp chính giúp phát hiện loãng xương:

+ Chụp X quang cột sống và xương tay chân. Đây là xét nghiệm rẻ tiền và dễ thực hiện ở các cơ sở y tế, nhưng khi thấy được hình ảnh loãng xương trên phim X quang thì bệnh đã trong giai đoạn muộn.

+ Xét nghiệm đo mật độ xương giúp đánh giá được khối lượng xương từ đó phát hiện loãng xương sớm hơn.

– Có chế độ dinh dưỡng hợp lý, sinh hoạt phù hợp:

+ Chế độ ăn uống đầy đủ, hợp lý, phù hợp với nhu cầu cơ thể. Bổ sung canxi (1000 -1500mg/ngày) và protein, vitamin (đặc biệt là vitamin D), các chất khoáng trong chế độ ăn, khuyến khích người bệnh uống nhiều sữa vì trong sữa có nhiều canxi và protein.

+ Không hút thuốc lá, uống bia rượu.

+ Tập thể dục đều đặn, các bài tập nhẹ nhàng, phù hợp với thể lực và tuổi của bệnh nhân như: Đi bộ, chạy bộ nhẹ nhàng ngoài trời, đạp xe, tập dưỡng sinh …

+ Tránh các hoạt động mạnh có thể dẫn đến chấn thương, gẫy xương. Có thể dùng các dụng cụ nẹp, chỉnh hình làm giảm tỳ đè lên cột sống, đầu xương.

Thuốc điều trị loãng xương:

Hiện nay có nhiều nhóm thuốc với cơ chế tác dụng khác nhau, có tác dụng hạn chế loãng xương và điều trị triệu chứng.

Các thuốc chống hủy xương:

Giảm hoạt tính của tế bào hủy xương (hủy cốt bào). Sử dụng hormon thay thế hoặc các chất tương tự hormon:

+ Chỉ định trong loãng xương sau mãn kinh: Raloxifen, Tibolon…

+ Canxitonin chỉ định trong trường hợp mới gãy xương.

+ Các biphosphonat: Alendronat, zoledronat.

+ Thuốc có tác dụng kép: Vừa tăng tạo xương, vừa ức chế hủy xương như strontium ranelat.

Thuốc tăng tạo xương:

Hormon cận giáp.

– Thuốc bổ sung: Canxi: 500 – 1500mg/ngày. Vitamin D 800 – 1000 UI/ ngày.

– Thuốc giảm đau: Nhóm chống viêm giảm đau phisteroid như: Meloxicam, celecoxib.

Lưu ý không dùng các thuốc nhóm corticoid vì các thuốc này gây tăng nặng loãng xương. Khi có gãy xương phải điều trị ngoại khoa nhằm  phục hổi giải phẫu xương, chỉnh hình.

PGS. TS Nguyễn Trọng Thông

Viết bình luận

Loãng xương – cách phòng ngừa và thuốc điều trị loang xuong Loãng xương, loang xuong, mật độ xương, Thuốc, thuoc, thuoc dieu tri, canxi

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), loãng xương là một bệnh nội tiết của toàn bộ hệ thống 

Yêu thích: 1872 / Xu hướng: 1987 / Tổng: 3859